Người M'nông có hai kiểu nhà truyền thống chính tuỳ nhóm: nhà trệt (nhà đất) với mái tranh dài phủ xuống gần sát mặt đất, và nhà sàn dựng trên cột gỗ. Nhà trệt mái dài gắn với nhiều nhóm M'nông ở vùng cao nguyên phía nam, trong đó có vùng Đắk Nông cũ. Cạnh nhà ở thường có kho lúa dựng trên cột riêng. Trung tâm sinh hoạt trong nhà là bếp lửa.
Ở vùng Tuy Đức hôm nay, nhà truyền thống còn rất ít; phần lớn gia đình M'nông đã ở nhà xây, nhà gỗ ván mái tôn. Nhưng hiểu cấu trúc ngôi nhà cũ giúp hiểu cách người M'nông tổ chức gia đình, cất giữ của cải và tiếp khách — những nếp vẫn còn trong ngôi nhà mới. Bài này tả lại nhà truyền thống, lý do nó thưa dần, và cách tìm xem, ghi chép những ngôi nhà còn lại.
Hai kiểu nhà: vì sao có nhóm ở nhà trệt, có nhóm ở nhà sàn
Trong các tài liệu dân tộc học, người M'nông được mô tả với cả hai kiểu nhà. Nhóm sống ở vùng cao nguyên khô, gió mạnh, ít thú dữ quanh nhà thường làm nhà trệt nền đất, mái tranh dày và thấp để chắn gió, giữ ấm. Nhóm sống gần vùng thấp, ven sông hồ hay chịu ảnh hưởng của các dân tộc láng giềng thì làm nhà sàn để tránh ẩm, tránh thú và rắn.
Ranh giới giữa hai kiểu không cứng: một bon có thể có cả nhà trệt lẫn nhà sàn, và qua thời gian nhiều gia đình chuyển từ kiểu này sang kiểu kia vì vật liệu, vì học theo láng giềng. Vì vậy khi tả nhà M'nông ở một nơi cụ thể, cách đúng nhất là nhìn và hỏi người trong bon chứ không suy từ sách.
Điểm chung của cả hai kiểu là vật liệu lấy từ rừng quanh bon: gỗ làm cột, kèo; tre, nứa, lồ ô đập dập làm vách, làm sàn; cỏ tranh lợp mái; mây, dây rừng buộc các mối nối thay đinh. Một ngôi nhà truyền thống là kết quả của nhiều tháng chuẩn bị vật liệu, và của sức lao động chung của cả họ hàng.
Nhà trệt mái dài: cấu tạo và cảm giác khi bước vào
Nhìn từ xa, nhà trệt M'nông như một mái tranh lớn úp xuống đất. Mái hai bên phủ dài, mép mái chỉ cách mặt đất khoảng tầm ngang người hoặc thấp hơn, nên người vào nhà phải cúi. Cửa ra vào thường mở ở mặt bên hoặc đầu hồi tuỳ nhóm. Vách thấp làm bằng tre, nứa đan hoặc ván gỗ, phần lớn chiều cao của ngôi nhà là mái.
Bên trong, ánh sáng chủ yếu đến từ cửa và bếp lửa, nên trong nhà khá tối, mát vào mùa khô và ấm vào những đêm mưa lạnh trên cao nguyên. Khói bếp bốc lên ám mái tranh, vừa chống mối mọt cho tranh và gỗ, vừa hun khô ngô, hạt giống, thịt cất trên giàn bếp. Mùi khói ấy là mùi mà nhiều người M'nông lớn tuổi nhớ nhất về ngôi nhà tuổi thơ.
Nền nhà trệt được nện kỹ bằng đất, quét dọn mỗi ngày. Ở nhà sàn, sàn làm bằng ván hoặc lồ ô đập dập, có cầu thang gỗ đẽo bậc lên xuống, đầu cầu thang có khi tạc hình trang trí. Dưới gầm sàn là chỗ để củi, nông cụ, nhốt gà. Dù là nhà trệt hay nhà sàn, ngôi nhà truyền thống đều hướng tới sự vừa đủ: giữ ấm, che mưa, có chỗ cho bếp, cho ché chiêng, cho khách.
Ngôi nhà dài khi gia đình đông người. Theo nếp mẫu hệ, con gái lấy chồng thì đôi vợ chồng ở trong nhà mẹ, nên ngôi nhà có thể được nối dài thêm để có chỗ cho các gia đình nhỏ, mỗi gia đình một bếp riêng. Độ dài của ngôi nhà vì thế phần nào nói lên số thế hệ và độ đông đúc của dòng họ đang sống chung.
Bên trong nhà: mỗi chỗ có một vai trò
Bếp lửa là trái tim. Mỗi gia đình nhỏ trong nhà có bếp riêng, đặt trên nền đất hoặc trên khay đất nện ở nhà sàn. Bếp để nấu, sưởi, hun khô, và là nơi cả nhà ngồi quây quần nói chuyện buổi tối.
Khu tiếp khách gần cửa. Khách đến thường được mời ngồi ở khu gần cửa hoặc khu chung, nơi đặt ché rượu khi có lễ. Khách không nên tự ý đi sâu vào khu ngủ của các gia đình bên trong.
Chỗ cất ché, chiêng. Ché, chiêng, những tài sản quý của dòng họ được đặt ở vị trí trang trọng dọc vách, ở nhiều nhà là phía trong cùng hoặc nơi chủ nhà ngủ. Đây là chỗ khách không đụng vào.
Giàn bếp và gác. Phía trên bếp có giàn để hun khô ngô, bầu, hạt giống, thịt, cá. Gác dưới mái để nông cụ, gùi, đồ đan lát. Cách cất giữ này giúp hạt giống không bị mọt, ẩm cho đến mùa trỉa sau.
Chỗ ngủ theo từng gia đình. Các cặp vợ chồng và con nhỏ ngủ ở khoang gần bếp của mình. Người già ngủ gần bếp chung hoặc nơi ấm nhất. Sự sắp xếp này phản ánh trật tự trong gia đình mẫu hệ.
Đồ dùng trong nhà: ché, gùi, cối giã và những thứ làm từ tre
Ngôi nhà truyền thống chỉ trọn vẹn khi có đủ đồ dùng của nó. Quý nhất là ché — những chum sành, sứ men nâu, men xanh có từ nhiều đời, được mua đổi qua các lái buôn từ xa xưa. Ché dùng ủ rượu cần, cất hạt giống, và là thước đo của cải. Một gia đình có nhiều ché cổ là gia đình có danh giá trong bon.
Gùi là vật không thể thiếu khi đi rẫy, đi rừng, đi chợ. Gùi đan bằng mây, tre, nứa, có nhiều cỡ: gùi to đựng lúa, ngô, củi; gùi nhỏ đựng đồ đi chợ; gùi đan dày có nắp để cất đồ quý. Gùi treo dọc vách, mỗi người trong nhà có gùi riêng. Cối giã gạo bằng gỗ đặt gần cửa hoặc dưới hiên, tiếng chày giã gạo buổi sớm là âm thanh quen thuộc của bon xưa.
Ngoài ra còn quả bầu khô dùng đựng nước, ống tre đựng muối, gạo, rổ rá, nia, mâm mây, chõng tre, bếp kiềng ba hòn đá. Hầu hết làm từ vật liệu quanh bon, do chính người trong nhà làm. Khi nhà truyền thống thưa dần, những đồ dùng này cũng chuyển dần thành đồ trang trí hoặc vật lưu niệm, chỉ một số như gùi, ché vẫn được dùng thật trong nhà M'nông hôm nay.
Kho lúa: ngôi nhà nhỏ giữ cái ăn của cả năm
Cạnh nhà ở, nhiều gia đình M'nông dựng kho lúa riêng — một ngôi nhà nhỏ trên các cột cao, sàn cách mặt đất để tránh ẩm và chuột. Ở nhiều dân tộc Tây Nguyên, đầu cột kho lúa được gắn tấm gỗ tròn hoặc vật chắn để chuột không leo lên được. Kho lúa thường đặt cách nhà ở một khoảng, phòng khi nhà cháy thì lúa vẫn còn.
Kho lúa không chỉ là chỗ cất mà còn gắn với lễ nghi. Lúa mới thu về, trước khi đổ vào kho có nghi thức nhỏ; trong lễ mừng lúa mới, kho lúa đầy là niềm tự hào của gia đình. Người trong bon nhìn kho lúa nhà nào đầy hay vơi cũng biết năm đó nhà ấy được mùa hay mất mùa.
Cách lấy lúa từ kho cũng có nếp riêng. Ở nhiều gia đình, chỉ người phụ nữ giữ nhà mới lên kho lấy lúa, lấy vừa đủ ăn vài ngày rồi giã. Lấy lúa tuỳ tiện, ăn hoang phí bị coi là không biết lo cho cả nhà. Nhờ vậy, kho lúa được tính toán để đủ ăn tới mùa sau, còn dư mới mang đổi lấy muối, vải, ché.
Khi lúa rẫy thưa dần, kho lúa cũng thưa theo. Nhiều nhà nay cất cà phê nhân, hạt điều trong nhà kho xây hoặc ngay trong nhà ở. Những kho lúa gỗ còn lại phần lớn đã cũ, có cái bỏ không. Với người tìm hiểu kiến trúc dân gian, đó là những công trình nhỏ nhưng rất đáng ghi lại trước khi mục nát.
Dựng nhà: vật liệu, lễ và sức người cả bon
Dựng một ngôi nhà truyền thống là việc lớn của cả họ. Gỗ làm cột được chọn và đốn từ mùa khô trước, phơi cho khô; cỏ tranh cắt vào mùa tranh già, phơi, bó thành tấm; tre nứa chặt ở rừng gần bon. Khi đủ vật liệu, gia đình mời họ hàng, người trong bon đến dựng cột, lên kèo, lợp mái trong vài ngày, đổi lại bằng bữa ăn và lời hứa sẽ đến giúp khi nhà khác dựng.
Nhiều dân tộc Tây Nguyên có lễ chọn đất dựng nhà và lễ mừng nhà mới. Lễ mừng nhà mới là dịp mở ché rượu, đánh chiêng, mời cả bon đến vui, để ngôi nhà "có hơi người" và gia chủ cảm ơn những ai đã góp công. Ở vùng Tuy Đức, lễ mừng nhà mới vẫn còn được tổ chức với cả nhà xây, chỉ khác là vật liệu không còn từ rừng.
Một ngôi nhà tranh nếu được giữ tốt có thể dùng nhiều năm, nhưng mái tranh phải thay định kỳ, gỗ phải chống mối. Đó cũng là một lý do khiến nhà truyền thống khó giữ: không chỉ dựng một lần mà phải chăm suốt đời nhà.
Vì sao nhà truyền thống thưa dần ở Tuy Đức, và còn lại gì
Có nhiều lý do. Rừng bị thu hẹp và được quản lý chặt, gỗ lớn và cỏ tranh không còn dễ kiếm. Nhà tranh dễ cháy, cần sửa thường xuyên. Các chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số thường hướng tới nhà xây, nhà khung bền chắc. Và chính người trong bon cũng muốn nhà sáng hơn, có điện, có chỗ để xe, để tivi.
Dù vậy, ngôi nhà mới vẫn giữ nhiều nếp cũ. Nhiều gia đình vẫn để một góc bếp củi trong nhà dù đã có bếp gas, vẫn cất ché chiêng ở chỗ trang trọng, vẫn tiếp khách quanh ché rượu khi có lễ. Có nhà dựng thêm một gian nhỏ bằng gỗ, tre cạnh nhà xây để làm lễ, để người già ngồi sưởi.
Muốn xem nhà truyền thống, bạn có thể hỏi uỷ ban xã hoặc ngành văn hoá xem nơi nào còn nhà cũ hoặc có nhà truyền thống được phục dựng ở nhà văn hoá cộng đồng. Khi đến một ngôi nhà đang có người ở, hãy xin phép chủ nhà, cởi giày dép nếu chủ nhà làm vậy, và hỏi trước khi chụp bên trong. Ghi lại tên gia chủ, năm dựng nhà theo lời kể, cấu tạo, vật liệu — những ghi chép như thế có giá trị lâu dài cho chính cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
Người M'nông ở Tuy Đức ở nhà sàn hay nhà trệt?
Theo truyền thống, nhiều nhóm M'nông ở vùng cao nguyên phía nam làm nhà trệt mái tranh dài, có nhóm làm nhà sàn. Ngày nay ở Tuy Đức phần lớn gia đình đã ở nhà xây hoặc nhà gỗ mái tôn, nhà truyền thống còn rất ít.
Vì sao mái nhà M'nông lại xuống thấp gần sát đất?
Mái thấp và dày giúp chắn gió mạnh trên cao nguyên, giữ ấm ban đêm và che mưa hắt. Khói bếp trong nhà còn hun khô mái tranh, giúp tranh và gỗ bền hơn trước mối mọt.
Nhà dài của người M'nông có giống nhà dài Ê Đê không?
Cùng là nhà của các dân tộc mẫu hệ nên có điểm giống: nhà được nối dài khi gia đình đông thêm, mỗi cặp vợ chồng có bếp riêng. Nhưng nhà dài Ê Đê thường là nhà sàn cao, còn nhiều nhóm M'nông làm nhà trệt mái tranh thấp.
Kho lúa M'nông có đặc điểm gì?
Kho lúa là ngôi nhà nhỏ dựng trên cột cao, tách riêng khỏi nhà ở, sàn cao để tránh ẩm và chuột. Đặt cách nhà để phòng cháy. Kho lúa đầy là niềm tự hào của gia đình trong mùa lễ mừng lúa mới.
Khi vào nhà người M'nông cần lưu ý gì?
Chào chủ nhà, chờ được mời mới vào, ngồi ở chỗ chủ nhà chỉ, không đụng vào ché chiêng và vật dụng lễ, không tự ý vào khu ngủ bên trong, hỏi trước khi chụp ảnh. Cởi giày dép nếu thấy chủ nhà làm vậy.
Có nơi nào trưng bày mô hình nhà truyền thống M'nông không?
Các bảo tàng tỉnh ở Tây Nguyên và một số nhà văn hoá cộng đồng có trưng bày hoặc phục dựng nhà truyền thống của các dân tộc bản địa. Hỏi cơ quan văn hoá tỉnh Lâm Đồng hoặc uỷ ban xã để biết điểm đang mở cửa.