Từ khoảng cuối thế kỷ 20, nhiều gia đình người Mông, Dao, Tày, Nùng, Thái và các dân tộc khác từ các tỉnh miền núi phía Bắc đã vào vùng Tuy Đức lập nghiệp. Họ thường đi theo họ hàng, sống quần tụ theo dòng họ, giữ tiếng nói, Tết riêng, trang phục và các lễ nghi gia đình, đồng thời học cách làm cà phê, hồ tiêu trên đất đỏ bazan.
Ở nhiều thôn của các xã Quảng Tân, Quảng Trực và Tuy Đức hôm nay, bạn có thể nghe tiếng khèn Mông vào dịp Tết, gặp những người phụ nữ mặc váy xếp nếp đi chợ, hay dự một đám cưới Tày có hát quan làng. Bài này tả lại những nếp văn hoá đồng bào phía Bắc mang theo và giữ được, cùng những thay đổi khi sống giữa một vùng khí hậu, đất đai và láng giềng rất khác quê cũ.
Đi theo họ hàng: cách các cộng đồng hình thành
Hành trình của đồng bào phía Bắc vào Tây Nguyên thường không phải cá nhân đơn lẻ. Một vài gia đình đi trước, tìm được đất, ổn định, rồi gửi tin về quê; anh em, họ hàng, người cùng bản đi theo. Vì vậy nhiều thôn ở vùng Tuy Đức có cả cụm hộ cùng một dòng họ, cùng một bản gốc, giữ nguyên cách tổ chức như ở quê.
Lý do đi phổ biến nhất là tìm đất sản xuất. Vùng núi phía Bắc đất dốc, đất canh tác ít, trong khi vùng đất đỏ phía nam Tây Nguyên những năm đó còn nhiều đất đồi. Người đi mang theo kinh nghiệm làm nương trên đất dốc, chăn nuôi, đan lát, rèn — những kỹ năng rất hợp với vùng đồi biên giới.
Những năm đầu thường rất vất vả: nhà tạm, đường đất, chưa có điện, trẻ con chưa có trường gần, giấy tờ hộ tịch, đất đai chưa ổn định. Về sau, các chương trình sắp xếp, ổn định dân cư, làm đường, kéo điện, dựng trường của Nhà nước dần đến với các điểm dân cư này. Nhiều gia đình nay đã có vườn cà phê, nhà xây, con cái học hết phổ thông, đi học đại học.
Người Mông: dòng họ, khèn và cái Tết đến sớm
Người Mông có tổ chức dòng họ rất chặt. Những người cùng họ coi nhau như anh em, giúp nhau khi dựng nhà, cưới hỏi, ma chay, và thường sống gần nhau. Khi một người Mông đến nơi mới, việc đầu tiên thường là tìm người cùng họ. Điều này giải thích vì sao người Mông ở Tuy Đức hay sống thành cụm, và vì sao muốn làm việc với một cộng đồng Mông thì cần gặp người đứng đầu dòng họ.
Tết của người Mông thường đến sớm hơn Tết Nguyên đán, rơi vào khoảng cuối năm âm lịch; thời điểm cụ thể tuỳ nhóm và từng nơi. Đó là dịp cả nhà nghỉ việc, làm bánh dày, thịt lợn, mặc quần áo mới, đi chúc Tết họ hàng. Thanh niên chơi ném pao, đánh quay, thổi khèn, hát giao duyên. Ở vùng Tuy Đức, nhiều gia đình Mông ăn cả Tết của mình lẫn Tết Nguyên đán cùng hàng xóm.
Khèn Mông là nhạc cụ gắn với người đàn ông Mông: vừa thổi vừa múa, xoay người, nhún nhảy. Tiếng khèn có mặt trong lễ Tết, đám cưới và cả đám tang. Phụ nữ Mông nổi tiếng với nghề thêu, ghép vải và vẽ hoa văn bằng sáp ong trên vải rồi nhuộm chàm. Bộ váy xếp nếp nhiều lớp, màu sắc rực rỡ là thứ người Mông ở Tây Nguyên vẫn giữ cho ngày lễ, dù ngày thường đã mặc quần áo phổ thông.
Người Dao: áo thêu, khăn đội đầu và những lễ trưởng thành
Người Dao có nhiều nhóm với trang phục khác nhau, dễ nhận ra nhất là áo, khăn thêu hoa văn dày đặc, nhiều màu đỏ, tua chỉ, hàng bạc. Phụ nữ Dao thêu không cần mẫu vẽ, nhớ hoa văn trong đầu, truyền từ mẹ sang con. Một bộ trang phục đầy đủ có thể mất nhiều tháng thêu tranh thủ lúc nông nhàn.
Trong đời sống gia đình người Dao có những nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành của người đàn ông, quan trọng nhất là lễ cấp sắc ở nhiều nhóm Dao. Đây là nghi lễ của dòng họ, kéo dài nhiều ngày, có thầy cúng, có múa và lời dạy về cách sống tử tế, hiếu thảo. Với người ngoài, nên hiểu đây là di sản văn hoá của cộng đồng, và chỉ đến xem khi được gia đình mời.
Người Dao ở Tây Nguyên cũng giữ nghề làm giấy bản, chép sách cổ bằng chữ Nôm Dao ở một số gia đình, tuy ngày càng ít người biết đọc. Bên cạnh đó là nghề thuốc nam theo kinh nghiệm dân gian; với những bài thuốc này, cần thận trọng và vẫn đi khám ở cơ sở y tế khi ốm đau.
Người Tày, Nùng: then, đàn tính và nếp nhà ấm áp
Người Tày, Nùng thường là cộng đồng quen với đời sống thôn xóm định canh, trồng lúa nước, làm vườn, chăn nuôi. Vào Tây Nguyên, nơi ít ruộng nước, họ chuyển sang cây công nghiệp nhanh, nhiều người làm ăn khá, mở tiệm, làm dịch vụ ở trung tâm xã.
Hát then với cây đàn tính là nét văn hoá đặc trưng của người Tày, Nùng, được UNESCO ghi danh năm 2019 trong Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam). Then có phần nghi lễ và phần hát giao lưu; ở vùng đất mới, các câu lạc bộ then, đàn tính của bà con Tày, Nùng là nơi người lớn dạy con cháu hát, giữ tiếng nói.
Đám cưới của người Tày, Nùng nổi tiếng với những người hát quan làng — người đại diện nhà trai đi đón dâu, đối đáp bằng lời hát với phía nhà gái ở mỗi chặng: chặng chăng dây chặn cửa, chặng mời nước, chặng xin vào nhà. Ở vùng đất mới, không phải thôn nào cũng còn người hát quan làng giỏi, nhiều gia đình phải mời người từ xã khác đến. Đây là một nghề diễn xướng dân gian rất đáng được ghi lại.
Lễ xuống đồng đầu năm (lồng tồng) vốn gắn với ruộng nước ở quê cũ; ở Tây Nguyên, nơi có cộng đồng Tày, Nùng đông thì có khi tổ chức thành ngày hội đầu xuân, có ném còn, kéo co, hát then. Nhà người Tày, Nùng giữ bàn thờ tổ tiên trang trọng, giỗ chạp đầy đủ, mâm cỗ Tết có những món của quê như bánh chưng đen, khâu nhục, thịt lợn hun khói.
Người Thái, Mường, Kinh từ miền núi và những cộng đồng nhỏ hơn
Ngoài bốn dân tộc đông hơn kể trên, vùng Tuy Đức còn có người Thái, Mường, Sán Chay, Sán Dìu và một số dân tộc khác, mỗi cộng đồng chỉ vài chục, vài trăm hộ, có khi xen lẫn trong thôn của người Kinh hay người Tày. Người Thái mang theo điệu xoè, nếp nhà sàn, nghề dệt; người Mường mang theo cồng của riêng mình, lễ hội đầu năm, những bài mo truyền miệng. Danh sách cụ thể và số hộ từng dân tộc ở mỗi xã nên tra số liệu thống kê chính thức của địa phương.
Những cộng đồng nhỏ thường gặp khó trong việc giữ nếp riêng vì không đủ đông để tổ chức lễ lớn, con cái dễ hoà vào cộng đồng xung quanh. Bù lại, họ thường là cầu nối giữa các dân tộc: biết nhiều thứ tiếng, quen nhiều nếp, dễ làm trung gian khi có việc chung.
Một nhóm ít được nhắc tới là người Kinh từ các tỉnh miền núi phía Bắc, lớn lên cạnh người Tày, Nùng, Mông ở quê cũ, vào Tuy Đức lại sống cạnh chính những cộng đồng ấy. Họ nói được vài thứ tiếng dân tộc, quen tục lệ, nên nhiều khi là người mở quán, mở tiệm tạp hoá ở các thôn đông đồng bào phía Bắc. Bức tranh dân cư ở đây vì thế không chia theo ranh dân tộc rạch ròi mà đan xen theo quê gốc, theo họ hàng và theo cả quan hệ làm ăn.
Từ quê cũ đến đất đỏ: những gì thay đổi trong đời sống
Sống ở vùng đất mới, mỗi cộng đồng giữ lại một phần nếp cũ và thay đổi một phần. Bảng dưới tóm những thay đổi thường gặp mà các gia đình đồng bào phía Bắc ở Tuy Đức hay kể:
| Khía cạnh | Ở quê cũ phía Bắc | Ở vùng Tuy Đức |
|---|---|---|
| Cây trồng chính | Lúa nương, ngô, lúa nước, cây ăn quả | Cà phê, hồ tiêu, điều, ngô, sắn, cây ăn trái |
| Khí hậu | Bốn mùa, mùa đông lạnh | Hai mùa mưa – khô, nắng gió mùa khô |
| Nhà ở | Nhà trình tường, nhà sàn, nhà gỗ | Nhà gỗ ván, nhà xây mái tôn |
| Trang phục | Mặc thường xuyên | Chủ yếu mặc dịp lễ, Tết, cưới |
| Chợ | Chợ phiên theo ngày cố định | Chợ xã, chợ tạm buổi sáng, mua bán qua thương lái |
| Láng giềng | Chủ yếu cùng dân tộc | M'nông, Kinh và nhiều dân tộc khác |
Điều ít thay đổi nhất là dòng họ, tiếng nói trong nhà và nghi lễ gia đình. Điều thay đổi nhanh nhất là cây trồng và cách làm ăn.
Giữ tiếng nói và nếp nhà ở thế hệ sinh ra trên đất đỏ
Thế hệ con cháu sinh ra ở Tuy Đức lớn lên trong môi trường nhiều dân tộc, học tiếng Việt ở trường, xem mạng xã hội bằng tiếng Việt. Nhiều em hiểu tiếng mẹ đẻ nhưng nói không trôi, chưa từng về quê gốc. Đây là mối lo chung của các gia đình, không riêng dân tộc nào.
Cách giữ mà các cộng đồng đang làm khá giống nhau: nói tiếng mẹ đẻ trong nhà, đưa con đi dự lễ Tết của dòng họ, dạy con thêu, thổi khèn, đánh đàn tính, kể chuyện quê. Một số câu lạc bộ văn nghệ ở thôn là nơi thanh niên tập múa, hát để biểu diễn trong ngày hội của xã.
Trường học cũng góp phần. Ở một số điểm trường đông học sinh dân tộc, thầy cô khuyến khích các em mặc trang phục dân tộc vào ngày lễ, tổ chức ngày hội văn hoá để mỗi lớp giới thiệu món ăn, điệu múa, câu hát của dân tộc mình. Những hoạt động nhỏ như thế giúp các em thấy văn hoá của gia đình mình được coi trọng, không phải thứ cần giấu đi khi bước vào lớp học.
Với người sống cạnh, cách tôn trọng tốt nhất là gọi đúng tên dân tộc, không đùa cợt về giọng nói hay trang phục, tò mò thì hỏi chuyện thật lòng. Những câu chuyện về hành trình từ núi đá phía Bắc vào tới đất đỏ biên giới là một phần lịch sử của vùng Tuy Đức, và xứng đáng được ghi lại bằng chính lời người trong cuộc.
Câu hỏi thường gặp
Người Mông ở Tuy Đức ăn Tết vào lúc nào?
Tết của người Mông thường sớm hơn Tết Nguyên đán, rơi vào khoảng cuối năm âm lịch, thời điểm cụ thể tuỳ nhóm và từng nơi. Nhiều gia đình Mông ở Tuy Đức ăn cả Tết riêng lẫn Tết Nguyên đán cùng hàng xóm.
Đồng bào phía Bắc vào Tuy Đức từ khi nào?
Dòng người đông nhất được nhắc từ khoảng cuối thế kỷ 20, kéo dài qua nhiều năm sau đó, đi theo họ hàng, bản làng. Mốc cụ thể từng thôn khác nhau; người lớn tuổi trong thôn thường nhớ rõ năm gia đình mình vào.
Hát then có được UNESCO công nhận không?
Có. Năm 2019, thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
Có thể học thêu, vẽ sáp ong của người Mông ở Tuy Đức không?
Một số phụ nữ Mông vẫn thêu và vẽ sáp ong cho gia đình. Muốn học hoặc đặt mua, hãy hỏi qua người quen, trưởng thôn hoặc hội phụ nữ xã. Nên trả công xứng đáng vì mỗi tấm vải mất rất nhiều thời gian.
Người mới đến nên ứng xử thế nào với cộng đồng Mông?
Gặp người đứng đầu thôn hoặc dòng họ khi cần làm việc chung, giữ lời hứa, nói rõ ràng. Người Mông trọng chữ tín và tình anh em trong họ. Không đùa cợt về phong tục, trang phục hay giọng nói.
Lễ cấp sắc của người Dao có cho khách xem không?
Lễ cấp sắc là nghi lễ của gia đình, dòng họ, kéo dài nhiều ngày. Khách chỉ nên đến khi được gia đình mời, giữ trật tự, hỏi trước khi chụp ảnh và không chen vào khu vực làm lễ.