Mùa khô ở Tuy Đức kéo dài khoảng năm sáu tháng, từ khoảng tháng 11 – 12 tới tháng 3 – 4 năm sau. Trời nắng, gió đông bắc thổi mạnh, độ ẩm thấp, nhiều tháng gần như không có mưa. Suối cạn dần, đất mặt khô nứt, bụi đỏ bay theo xe, cỏ và lá khô chất đầy ven rừng, nguy cơ cháy cao nhất vào cuối mùa.
Đây là nửa năm quyết định chuyện nước của cả vùng. Bài này giải thích vì sao mùa khô ở cao nguyên gắt như vậy, các rủi ro chính đi kèm (thiếu nước, cháy, bụi, nắng), và những thói quen giúp người dân sống chung với nó. Chuyện tưới vườn, trữ nước cho cây trồng thuộc chuyên mục cây công nghiệp; những năm hạn nặng bất thường có bài riêng trong chuyên mục này.
Vì sao mùa khô ở cao nguyên lại gắt
Mùa khô ở Tây Nguyên trùng với thời kỳ gió mùa đông bắc. Luồng gió này khi tới cao nguyên đã bỏ lại phần lớn hơi ẩm ở sườn đông dãy núi và vùng ven biển miền Trung, nên khô. Trời ít mây, nắng chiếu thẳng xuống mặt đất nhiều giờ mỗi ngày, độ ẩm không khí xuống thấp. Bốc hơi từ mặt đất và lá cây rất mạnh.
Ba yếu tố cộng lại khiến mùa khô ở vùng Tuy Đức cảm giác gắt hơn con số nhiệt độ: nắng trực xạ mạnh do ít mây và không khí trong; gió khô thổi liên tục làm đất, cây mất nước nhanh; và độ ẩm thấp làm hơi nước trên da, trên lá bốc đi rất nhanh. Một ngày 32°C với gió khô ở cao nguyên làm cây héo nhanh hơn một ngày cùng nhiệt độ ở đồng bằng ẩm.
Cuối mùa khô, khoảng tháng 3 – 4, là giai đoạn căng nhất: đất đã mất gần hết độ ẩm dự trữ, suối cạn, nhiệt độ lên cao nhất trong năm trước khi những cơn mưa đầu mùa tới.
Nước: điều mọi người lo nhất
Mùa mưa cho vùng Tuy Đức lượng nước lớn, nhưng mùa khô lấy lại gần hết. Suối nhỏ, khe nước mùa mưa chảy róc rách thì đến giữa mùa khô chỉ còn vũng đọng, cuối mùa có nơi khô hẳn. Giếng đào nông hạ mực nước; giếng khoan phải bơm lâu hơn mới đầy bồn. Ao trữ nước của các nhà vườn cạn dần theo từng lượt tưới.
Nhu cầu nước lại tăng đúng lúc nguồn nước giảm. Vườn cà phê cần tưới để ra hoa, vườn cây ăn trái cần nước để giữ cây, gia đình cần nước sinh hoạt. Những năm khô gắt, chuyện tranh nhau nước suối, giếng cạn phải mua nước chở bằng xe bồn không phải là hiếm ở các vùng Tây Nguyên.
Với hộ gia đình, những thói quen giúp đỡ căng thẳng: trữ nước sinh hoạt đầy bồn ngay từ cuối mùa mưa; dùng nước tiết kiệm, tận dụng nước rửa để tưới cây quanh nhà; kiểm tra rò rỉ đường ống; không xả nước bừa vào ban trưa nắng. Cơ chế nước ngầm, suối và vì sao giếng cạn được viết kỹ ở bài về nguồn nước trong chuyên mục này.
Dưới mặt đất mùa khô: đất mất nước thế nào
Đất đỏ bazan có cấu trúc tơi, nhiều lỗ rỗng, nên mùa mưa ngấm và giữ được khá nhiều nước. Khi mùa khô đến, lớp đất mặt mất nước trước, qua bốc hơi trực tiếp và qua rễ cây hút lên rồi thoát qua lá. Từng tuần trôi qua, “mặt trận khô” đi dần xuống sâu. Đến giữa mùa khô, lớp đất trên cùng gần như khô hoàn toàn, nứt chân chim ở những nơi đất có nhiều sét.
Cây lâu năm có rễ sâu thì vẫn lấy được nước ở các lớp dưới trong một thời gian; cây rễ nông, cỏ, cây non thì héo trước. Đó là lý do cảnh quan mùa khô ở vùng Tuy Đức chuyển dần từ xanh sang vàng nâu: cỏ chết trước, cây bụi sau, cây vườn được tưới là những mảng xanh còn lại.
Lớp lá khô, cỏ khô phủ trên mặt đất có hai mặt: nó che đất, giảm bốc hơi, giữ ẩm cho lớp dưới; nhưng nó cũng là nhiên liệu khi có lửa. Cách người làm vườn cân bằng hai mặt này, giữ lớp phủ trong gốc mà dọn sạch vành đai ngăn lửa, là một kỹ năng mùa khô điển hình.
Cháy: rủi ro lớn nhất cuối mùa khô
Cuối mùa khô, cỏ tranh, lau lách, lá khô dưới tán vườn và ven rừng chất thành lớp nhiên liệu dày. Độ ẩm thấp, gió mạnh, chỉ cần một tàn lửa là lửa có thể lan rất nhanh. Phần lớn các vụ cháy ở vùng nông thôn Tây Nguyên bắt nguồn từ hoạt động của con người: đốt rác, đốt cỏ dọn vườn, đốt dọn thực bì, tàn thuốc, lửa nấu ăn trong rẫy.
Cháy lan vào rừng là thiệt hại khó bù đắp; cháy lan vào vườn cây lâu năm có thể thiêu rụi công sức nhiều năm; cháy gần nhà, kho nông sản thì nguy hiểm tới tính mạng và tài sản. Ở nhiều địa phương, mùa khô được chính quyền và lực lượng kiểm lâm xác định là cao điểm phòng cháy chữa cháy rừng, có cảnh báo cấp dự báo cháy theo ngày.
Cũng cần biết: đốt thực bì, đốt nương rẫy ven rừng trong mùa khô thường bị quản lý chặt, có nơi phải đăng ký, có nơi bị cấm trong những ngày cấp dự báo cháy cao. Trước khi đốt bất cứ thứ gì gần rừng, hãy hỏi chính quyền thôn, xã hoặc kiểm lâm địa bàn.
Những việc giảm nguy cơ cháy quanh nhà và vườn
Các việc dưới đây là khuyến cáo chung của lực lượng phòng cháy ở vùng nông thôn, dễ làm và ít tốn kém:
- Phát dọn cỏ khô, lá khô quanh nhà, kho, chuồng trại thành một vành đai trống; không để cỏ tranh mọc sát vách.
- Không đốt rác, đốt cỏ vào những giờ gió mạnh hoặc những ngày được cảnh báo cấp cháy cao; khi đốt phải có người trông đến khi tắt hẳn và có sẵn nước.
- Không vứt tàn thuốc, không đốt lửa nấu ăn trong rẫy sát bờ rừng hoặc trong vạt cỏ khô.
- Chuẩn bị sẵn dụng cụ: thùng nước, bao tải ướt, cành cây dập lửa, cuốc xẻng để làm đường băng ngăn lửa.
- Nếu thấy cháy lan, báo ngay cho thôn, xã, kiểm lâm hoặc gọi 114; không một mình lao vào đám cháy lớn hay đứng ở phía cuối gió.
Khói từ các đám cháy cỏ cũng gây khó thở, nhất là với trẻ nhỏ, người già và người có bệnh hô hấp. Những ngày nhiều khói, nên đóng cửa, hạn chế ra ngoài; ai có triệu chứng khó thở nên đến cơ sở y tế.
Bụi đỏ, nắng hanh và sức khoẻ mùa khô
Đất đỏ bazan khi khô thành lớp bụi mịn, xe chạy qua là cuộn lên một đám đỏ. Mùa khô, áo trắng mặc đi đường đất một chuyến là ngả màu, nhà cửa ven đường bám bụi, lá cây ven đường phủ một lớp đỏ. Đường nhựa giảm được nhiều, nhưng các tuyến liên thôn, đường vào vườn vẫn là đất.
Người địa phương quen với khẩu trang, kính, áo dài tay, nón rộng vành. Đây không chỉ là chống bụi mà còn chống nắng: nắng cao nguyên mùa khô có chỉ số tia cực tím cao, làm việc giữa trưa không che chắn dễ bị cháy nắng, mệt. Uống đủ nước, nghỉ trong bóng râm vào giờ nắng nhất là cách những người hái điều, phơi tiêu giữ sức trong mùa thu hoạch.
Bụi đỏ còn bám vào thiết bị: lọc gió xe máy, máy bơm, máy phát cần được vệ sinh thường xuyên hơn trong mùa khô. Đồ điện tử trong nhà ven đường nên được che chắn.
Không khí khô và gió làm da nứt nẻ, môi khô, mắt cay, mũi họng khô rát, nhất là với người từ vùng ẩm mới lên. Những thói quen giúp dễ chịu hơn: uống nước đều trong ngày chứ không đợi khát, dùng kem dưỡng da, đeo kính khi đi xe, đeo khẩu trang chống bụi đỏ, giữ phòng ngủ thoáng nhưng tránh gió lùa trực tiếp.
Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn dễ làm trẻ nhỏ và người già bị lạnh vào ban đêm, nóng vào ban trưa. Mặc nhiều lớp mỏng để thêm bớt tiện hơn một chiếc áo dày.
Nếu có biểu hiện bất thường như sốt cao, khó thở, mệt lả sau khi làm việc dưới nắng, hãy đến cơ sở y tế gần nhất. Bài này chỉ nêu những thói quen sinh hoạt chung, không thay lời khuyên của nhân viên y tế.
Mùa khô qua từng giai đoạn
Diễn biến mùa khô không đều; nhận ra từng giai đoạn giúp bạn chuẩn bị đúng lúc. Mốc tháng chỉ là khoảng, có thể lệch tuỳ năm:
| Giai đoạn | Thời tiết | Nước | Rủi ro chính |
|---|---|---|---|
| Đầu mùa (khoảng tháng 11 – 12) | Mưa thưa dần, gió chuyển hướng, sáng sớm mát | Suối, ao còn nhiều nước | Chủ quan, chưa trữ nước |
| Giữa mùa (khoảng tháng 1 – 2) | Nắng, gió đông bắc mạnh, độ ẩm thấp | Suối nhỏ bắt đầu cạn, giếng nông hạ mực | Gió làm đổ cây, lửa đốt rác lan |
| Cuối mùa (khoảng tháng 3 – 4) | Nóng nhất năm, nắng gắt | Thiếu nước rõ nhất | Cháy cỏ, cháy rừng; mệt vì nắng |
| Chuyển mùa (khoảng tháng 4 – 5) | Xuất hiện mưa trái mùa, dông đầu mùa | Bắt đầu được bổ sung | Sét, lốc trong dông đầu mùa |
Ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ như vạch kẻ. Một hai cơn mưa đầu mùa chưa có nghĩa là mùa khô đã hết; đất và suối cần nhiều tuần mưa mới hồi lại.
Mùa khô cũng là mùa của nhiều việc
Nói mùa khô chỉ toàn khó khăn thì chưa đủ. Trời khô ráo là thời điểm thuận lợi cho thu hoạch, phơi sấy nông sản, sửa nhà, làm đường, xây dựng. Đường đất khô dễ đi hơn mùa mưa rất nhiều. Nhiều đám cưới, lễ hội của các cộng đồng trong vùng cũng rơi vào mùa này, sau khi thu hoạch xong.
Với người mới đến, mùa khô là lúc dễ đi lại để tìm hiểu vùng đất, xem nhà, xem vườn. Nhưng cũng nên nhớ: một mảnh đất, một cái giếng nhìn ổn trong mùa mưa có thể rất khác vào cuối mùa khô. Muốn đánh giá nguồn nước của một nơi, hãy xem nó vào tháng 3 – 4.
Mùa khô cũng là mùa người ta dọn dẹp, sửa sang cho nửa năm mưa sắp tới: lợp lại mái, đắp lại bờ ao, khơi rãnh thoát nước quanh nhà, đổ thêm đá vào đoạn đường hay lầy. Những việc làm trong nắng là những việc giúp mùa mưa bớt khổ.
Câu hỏi thường gặp
Mùa khô ở Tuy Đức kéo dài mấy tháng?
Khoảng năm sáu tháng, từ tháng 11 – 12 tới tháng 3 – 4 năm sau. Có năm mưa đến sớm, có năm mùa khô kéo dài sang tháng 5. Giai đoạn khô gắt nhất thường là cuối mùa, khoảng tháng 3 – 4.
Vì sao mùa khô ở Tây Nguyên ít mưa như vậy?
Mùa khô trùng với thời kỳ gió mùa đông bắc. Gió này mất phần lớn hơi ẩm khi vượt núi và gây mưa ở sườn đông, ven biển miền Trung, nên tới cao nguyên đã khô. Trời ít mây nên nắng mạnh, bốc hơi lớn.
Đốt rác trong vườn mùa khô có bị cấm không?
Quy định cụ thể tuỳ địa phương và mức cảnh báo cháy từng thời điểm. Gần rừng, trong những ngày cấp dự báo cháy cao, việc đốt thường bị hạn chế hoặc cấm. Hãy hỏi chính quyền thôn, xã hoặc kiểm lâm địa bàn trước khi đốt.
Phát hiện cháy rừng thì báo cho ai?
Báo ngay cho trưởng thôn, chính quyền xã, kiểm lâm địa bàn, hoặc gọi số khẩn cấp phòng cháy chữa cháy 114. Không một mình lao vào đám cháy lớn, không đứng ở phía cuối gió, và ưu tiên đưa người ra khỏi vùng nguy hiểm.
Mua đất ở Tuy Đức nên xem vào mùa nào?
Nên xem cả hai mùa nếu có thể, đặc biệt là cuối mùa khô, khoảng tháng 3 – 4, để biết giếng, suối, ao còn nước tới đâu. Một mảnh đất nhìn đẹp trong mùa mưa chưa chắc đủ nước khi mùa khô tới.
Mùa khô ở Tuy Đức có lạnh không?
Ban ngày nắng nóng, nhưng đêm và sáng sớm đầu mùa khô khá mát, có hôm se lạnh. Biên độ nhiệt ngày đêm lớn vì không khí khô, ít mây. Cuối mùa khô thì nóng cả ngày lẫn đêm hơn.