Trong khoảng bốn mươi năm sau 1975, phần lớn diện tích rừng tự nhiên ở vùng Tuy Đức đã chuyển thành rẫy rồi thành vườn cây lâu năm: cà phê, hồ tiêu, điều, cao su và gần đây là sầu riêng, mắc ca. Quá trình ấy đi qua ba giai đoạn chính: lâm trường quốc doanh khai thác gỗ, làn sóng khai hoang theo cây cà phê, và giai đoạn giao rừng cho doanh nghiệp, dự án nông lâm nghiệp mà nhiều nơi rừng bị phá nhanh hơn được giữ.
Lịch sử này giải thích nhiều điều của Tuy Đức hôm nay: vì sao cảnh quan chủ yếu là đồi vườn, vì sao hồ sơ đất hay phức tạp, vì sao nguồn nước mùa khô căng thẳng. Bài viết dựa trên những gì đã được báo chí và cơ quan chức năng công bố rộng rãi; số liệu diện tích cụ thể từng thời kỳ không được nêu ở đây vì các nguồn chênh nhau.
Rừng trước khi khai phá
Theo lời kể của người lớn tuổi và mô tả trong các tài liệu về Tây Nguyên, vùng cao nguyên phía tây Đắk Nông cũ từng là rừng rậm trên đất đỏ, xen những vạt rẫy của người M'nông và những khoảng rừng thưa hơn ở vài nơi gần biên giới. Rừng cho gỗ, măng, mật ong, thú rừng, cây thuốc; quan trọng hơn, rừng giữ nước cho các dòng suối chảy quanh năm.
Lối rẫy luân canh của người M'nông có tác động tới rừng, nhưng ở quy mô nhỏ và có thời gian cho rừng tái sinh. Một bon phát rẫy, canh tác vài vụ, rồi để đất nghỉ nhiều năm. Với mật độ dân thưa, rừng vẫn chiếm phần lớn không gian. Bước ngoặt đến khi dân số tăng nhanh và rừng trở thành nguồn gỗ, nguồn đất cho cả một nền kinh tế.
Cũng nên tránh hình dung lãng mạn rằng trước đó là “rừng nguyên sinh không dấu chân người”. Rừng ở đây đã có người sống cùng hàng trăm năm, và chính người M'nông là những người hiểu rõ nhất khoảnh nào là rừng thiêng, rừng đầu nguồn không được phát, khoảnh nào là đất rẫy. Hệ thống hiểu biết ấy bị lấn át khi luật chơi về đất thay đổi quá nhanh.
Giai đoạn lâm trường quốc doanh
Sau năm 1975, rừng ở Tây Nguyên phần lớn được giao cho các lâm trường quốc doanh quản lý. Nhiệm vụ chính của lâm trường trong giai đoạn đầu là khai thác gỗ phục vụ xây dựng và xuất khẩu, kèm trồng rừng và bảo vệ rừng. Vùng phía tây Đắk Lắk cũ, nay là Tuy Đức, nằm trong vùng hoạt động của các đơn vị lâm nghiệp như vậy.
Khai thác gỗ mở ra đường vận xuất, và đường vận xuất mở lối cho người vào rừng. Ở nhiều nơi trên Tây Nguyên, con đường gỗ đi ra cũng là con đường người khai hoang đi vào. Diện tích sau khai thác, nếu không được trồng lại kịp, dễ trở thành đất rẫy.
Từ cuối thập niên 1980 và 1990, khi chính sách lâm nghiệp chuyển hướng, khai thác gỗ rừng tự nhiên bị siết dần và về sau đóng cửa rừng tự nhiên trên cả nước. Nhưng đến lúc đó, áp lực lên rừng đã chuyển sang một hình thức khác: đất cho cây công nghiệp.
Làn sóng khai hoang theo cây cà phê
Thập niên 1990, giá cà phê nhiều năm ở mức hấp dẫn khiến đất đỏ bazan còn rừng trở thành thứ người ta tìm kiếm. Người từ nhiều tỉnh lên vùng biên phía tây Đắk Nông cũ, phát rừng, lập rẫy, trồng cà phê; đất được mua bán bằng giấy tay, nhiều lần sang tên không qua cơ quan nào.
Chính quyền khi đó ở xa, lực lượng bảo vệ rừng mỏng, địa bàn rộng và hiểm trở. Diện tích rừng thu hẹp từng năm, phần lớn không qua bất kỳ quyết định chuyển đổi nào. Đây là đặc điểm chung của nhiều vùng Tây Nguyên giai đoạn ấy, và vùng Tuy Đức là một trong những nơi diễn ra muộn nhưng nhanh.
Những người khai hoang đầu tiên phần lớn là nông dân nghèo tìm sinh kế, không phải những kẻ phá rừng chuyên nghiệp. Hiểu điều đó giúp giải thích vì sao việc xử lý đất rừng bị lấn chiếm sau này khó khăn: đằng sau mỗi mảnh vườn là một gia đình đã sống ở đó hàng chục năm.
Giai đoạn giao rừng cho doanh nghiệp và dự án
Bước sang những năm 2000, để vừa giữ rừng vừa phát triển kinh tế, nhiều diện tích rừng ở Đắk Nông, trong đó có vùng Tuy Đức, được giao hoặc cho thuê cho các doanh nghiệp thực hiện dự án nông lâm nghiệp, với cam kết bảo vệ rừng còn lại và trồng rừng, trồng cây trên phần đất trống. Ý tưởng là đưa vốn tư nhân vào quản lý rừng thay cho các lâm trường đã yếu.
Thực tế ở nhiều dự án lại khác. Báo chí và các đợt thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng nhiều lần phản ánh tình trạng rừng trong diện tích giao cho doanh nghiệp bị phá, bị lấn chiếm, có nơi doanh nghiệp không đủ năng lực quản lý, có nơi diện tích bị chuyển nhượng trái phép cho người dân canh tác. Một số dự án sau đó bị thu hồi, một số vụ việc được xử lý theo pháp luật. Chi tiết từng vụ nên đọc trong kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền.
Bài học từ giai đoạn này được nhắc nhiều trong các cuộc thảo luận về chính sách rừng ở Tây Nguyên: giao rừng mà không giám sát được thì không giữ được rừng, và khi rừng đã thành vườn có người ở, mọi phương án xử lý đều tốn kém và gây mâu thuẫn.
Ba giai đoạn khai phá: tóm tắt để đối chiếu
Bảng dưới gom ba giai đoạn theo tác nhân chính và dấu vết còn lại, giúp bạn đọc hiểu nguồn gốc của một thửa đất hay một khoảnh rừng:
| Giai đoạn | Tác nhân chính | Hình thức | Dấu vết hôm nay |
|---|---|---|---|
| Sau 1975 – thập niên 1980 | Lâm trường quốc doanh | Khai thác gỗ, mở đường vận xuất | Đường mòn cũ, rừng nghèo, đất sau khai thác |
| Thập niên 1990 – đầu 2000 | Hộ gia đình khai hoang, di dân tự phát | Phát rừng làm rẫy, trồng cà phê; mua bán giấy tay | Vườn lâu năm, hồ sơ đất phức tạp |
| Những năm 2000 – 2010 | Doanh nghiệp được giao, thuê rừng làm dự án | Phá rừng trong dự án, chuyển nhượng trái phép, lấn chiếm | Dự án bị thu hồi, đất đang xử lý pháp lý |
| Từ thập niên 2010 | Nhà nước, cộng đồng, chủ rừng | Siết bảo vệ rừng, trồng lại, rà soát đất | Rừng trồng, rừng phòng hộ, vùng quy hoạch lại |
Mốc thời gian là ước lượng theo xu hướng chung, có chồng lấn giữa các giai đoạn. Với một thửa đất cụ thể, nguồn gốc chính xác chỉ có thể xác định qua hồ sơ địa chính và quy hoạch của cơ quan quản lý.
Từ cà phê sang tiêu, điều, sầu riêng: đất đổi chủ, cây đổi loài
Khi đất đã thành vườn, lịch sử khai phá tiếp tục dưới dạng khác: thay cây. Hồ tiêu lên ngôi một thời, rồi gặp dịch bệnh và giá xuống; điều, cao su có chỗ đứng ở vùng đất kém hơn; những năm gần đây sầu riêng, mắc ca được trồng mới hoặc trồng xen. Mỗi lần thay cây là một lần đầu tư lớn, một lần đất được làm lại, và đôi khi là một lần đất đổi chủ.
Chuyện chọn cây gì, trồng ra sao thuộc chuyên mục cây công nghiệp của trang. Ở góc lịch sử, điều đáng ghi nhận là vùng đất Tuy Đức trong ba mươi năm đã đi qua nhiều chu kỳ cây trồng hơn những vùng khác đi qua trong cả trăm năm, và mỗi chu kỳ để lại dấu vết trên cảnh quan: những hàng trụ tiêu bỏ trống, những vườn cà phê già cỗi, những vạt sầu riêng mới trồng.
Chu kỳ thay cây còn kéo theo chu kỳ nước. Cây cà phê, sầu riêng cần tưới nhiều trong mùa khô, nên mỗi lần diện tích các cây này tăng, nhu cầu khoan giếng, đào ao, bơm nước suối cũng tăng theo. Trên một vùng đất đã mất phần lớn rừng giữ nước, điều này làm căng thẳng mùa khô thêm gay gắt, một chủ đề được bàn kỹ ở chuyên mục rừng, đất đỏ và khí hậu.
Trồng lại rừng và những gì còn giữ được
Từ thập niên 2010, chính sách bảo vệ rừng được siết chặt hơn. Rừng phòng hộ biên giới, các khoảnh rừng tự nhiên còn lại được khoanh giữ; các chương trình trồng rừng, trồng cây phân tán, khuyến khích trồng cây lâm nghiệp trong vườn được triển khai. Diện tích rừng trồng tăng lên, dù rừng trồng không thay được hoàn toàn rừng tự nhiên về đa dạng sinh học và khả năng giữ nước.
Chuyện rừng còn lại trông thế nào, kiểu rừng nào, vai trò ra sao với nguồn nước và khí hậu được viết riêng ở chuyên mục rừng, đất đỏ và khí hậu. Ở đây chỉ cần nhớ: những khoảnh rừng còn đứng được ở vùng Tuy Đức hôm nay là phần sót lại của một quá trình rất dài, và mỗi khoảnh như vậy đều quý.
Trồng lại rừng trên đất dốc từng bị khai phá không đơn giản. Đất đã mất lớp mặt, nắng mùa khô gay gắt, cây non dễ chết; người dân sống quanh đó cần sinh kế nên khó để đất trống chờ rừng lên. Vì thế nhiều chương trình chuyển sang hướng trồng cây lâm nghiệp xen trong vườn, trồng cây bản địa ở vạt dốc, giao khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng bon làng kèm hỗ trợ.
Đọc lịch sử này khi mua đất, làm vườn
Với người đến Tuy Đức mua đất, lịch sử khai phá không phải chuyện xa xôi. Một thửa đất đẹp, giá mềm, giấy tờ là “giấy tay nhiều đời” rất có thể có nguồn gốc từ đất rừng hoặc nằm trong diện tích từng giao cho dự án. Những thửa như vậy có thể chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, thậm chí nằm trong vùng phải thu hồi để trồng lại rừng.
Nguyên tắc tự bảo vệ đơn giản: trước khi đặt cọc, hỏi chính quyền xã về quy hoạch và nguồn gốc thửa đất, xem đất có nằm trong quy hoạch ba loại rừng hay diện tích của dự án nào không. Chi tiết thủ tục thuộc chuyên mục đời sống và thủ tục; điều cốt lõi là đừng để giá rẻ quyết định thay cho giấy tờ.
Với người đã sống lâu năm, hiểu lịch sử này giúp nhìn nhận công bằng hơn các tranh chấp đất đai trong vùng: nhiều bên đều có lý lẽ của mình, và cách giải quyết bền vững thường cần thời gian, đối thoại và sự rõ ràng của nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
Rừng ở Tuy Đức mất nhiều nhất vào giai đoạn nào?
Theo các nguồn báo chí và báo cáo đã công bố, rừng suy giảm mạnh trong giai đoạn khai hoang theo cây cà phê từ thập niên 1990 và giai đoạn giao rừng cho doanh nghiệp làm dự án những năm 2000. Số liệu cụ thể từng thời kỳ chênh nhau giữa các nguồn nên không nêu ở đây.
Dự án giao rừng cho doanh nghiệp ở Đắk Nông là gì?
Là việc nhà nước giao hoặc cho doanh nghiệp thuê diện tích rừng để thực hiện dự án nông lâm nghiệp, kèm nghĩa vụ bảo vệ rừng còn lại và trồng rừng. Ở nhiều dự án, rừng vẫn bị phá, lấn chiếm; một số dự án đã bị thu hồi theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
Đất có nguồn gốc lâm nghiệp có được cấp sổ đỏ không?
Tuỳ từng trường hợp: vị trí thửa đất trong quy hoạch, thời điểm sử dụng, nguồn gốc và quy định pháp luật đất đai hiện hành. Không có câu trả lời chung. Hãy hỏi chính quyền xã và cơ quan quản lý đất đai trước khi mua bán.
Người khai hoang đầu tiên có phải là người phá rừng không?
Phần lớn là nông dân tìm đất sinh sống trong bối cảnh quản lý còn lỏng, không phải đối tượng phá rừng chuyên nghiệp. Điều đó không làm thay đổi việc rừng đã mất, nhưng giúp hiểu vì sao xử lý đất rừng bị lấn chiếm phức tạp và cần đối thoại.
Ở Tuy Đức còn rừng tự nhiên không?
Còn, chủ yếu là các khoảnh rừng được khoanh giữ, rừng phòng hộ ở khu vực biên giới và những nơi địa hình khó canh tác. Bên cạnh đó là diện tích rừng trồng tăng dần. Hiện trạng cụ thể nên tra số liệu chính thức của ngành lâm nghiệp tỉnh.
Lịch sử này có ảnh hưởng gì tới nguồn nước?
Rừng giữ nước cho các dòng suối; khi rừng đầu nguồn mất, suối dễ cạn vào mùa khô và lũ nhanh hơn vào mùa mưa. Người dân trong vùng thường kể nhiều suối từng chảy quanh năm nay cạn vào cuối mùa khô, phù hợp với cơ chế đó.