Đất đỏ bazan là loại đất hình thành từ quá trình phong hoá rất lâu dài của đá bazan, loại đá do núi lửa phun trào tạo nên, trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Phần lớn vùng Tuy Đức nằm trên loại đất này. Đất có màu đỏ đến nâu đỏ do giàu ô-xít sắt, tầng đất dày, tơi xốp, thoát nước tốt; mặt yếu là đất chua, dễ bị rửa trôi chất dinh dưỡng và rất dễ xói mòn khi mất lớp phủ trên đất dốc.
Hiểu đất đỏ không chỉ là chuyện của người trồng trọt. Nó giải thích vì sao đường đất ở đây trơn như mỡ khi mưa và bụi mù khi nắng, vì sao vết cắt taluy đứng được khá dốc, vì sao nước mưa ngấm nhanh mà suối vẫn cạn. Bài này nói về đất như một thực thể tự nhiên; chuyện bón phân, cải tạo đất cho từng cây thuộc chuyên mục cây công nghiệp.
Từ đá núi lửa thành đất đỏ: quá trình mất hàng triệu năm
Cao nguyên ở vùng Đắk Nông cũ được tạo nên bởi những đợt phun trào bazan trong các thời kỳ địa chất gần, theo thang thời gian địa chất, cách nay vài triệu năm trở lại. Dung nham bazan chảy loang rộng, nguội đi thành những lớp đá màu xám đen phủ lên nền đá cổ hơn. Lớp đá ấy chính là “đá mẹ” của đất đỏ hôm nay.
Trong khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, đá bazan bị phong hoá rất mạnh. Nước mưa hơi chua thấm qua đá, hoà tan và mang đi dần các thành phần dễ tan như si-líc, can-xi, ma-giê, kali, natri. Những gì khó tan, chủ yếu là ô-xít và hy-đrô-xít của sắt và nhôm, ở lại và tích tụ. Giới thổ nhưỡng gọi quá trình này là ferralit hoá, và đất đỏ bazan thuộc nhóm đất ferralit.
Kết quả sau một thời gian rất dài là một tầng đất dày, có nơi tới nhiều mét, gần như không còn khoáng vật gốc của đá, mà giàu sắt, nhôm và sét. Đó là lý do đất đỏ bazan sâu và đồng nhất hơn nhiều loại đất khác: nó là sản phẩm của một quá trình biến đổi gần như trọn vẹn.
Vì sao đất có màu đỏ
Màu đỏ đến từ các ô-xít sắt, chủ yếu là hê-ma-tít cho sắc đỏ và gơ-tít cho sắc vàng nâu. Đá bazan vốn giàu sắt; khi phong hoá trong điều kiện thoáng khí, sắt bị ô-xi hoá, giống như sắt thép để ngoài trời bị gỉ. Lượng sắt lớn, phủ lên từng hạt đất, nhuộm cả tầng đất thành đỏ.
Sắc đỏ đậm hay nhạt nói lên phần nào điều kiện của đất. Đất trên sườn, đỉnh đồi thoát nước tốt thường đỏ tươi hơn. Đất ở chân dốc, thung lũng, nơi hay đọng nước, có thể ngả nâu, vàng hoặc có những vệt xám xanh, vì khi thiếu không khí, sắt chuyển sang dạng khác ít đỏ hơn. Lớp đất mặt nhiều mùn thì sẫm màu hơn lớp đất đỏ bên dưới.
Người trong vùng hay phân biệt “đất đỏ” và “đất nâu”, “đất đen” theo màu. Màu là gợi ý hữu ích, nhưng không đủ để kết luận chất lượng đất. Hai khoảnh đất cùng màu có thể khác nhau nhiều về độ chua, độ dày tầng đất, lượng mùn. Muốn biết chắc, cần phân tích mẫu đất ở phòng thí nghiệm.
Một chi tiết thú vị: màu đỏ của đất bám rất dai vào vải, gỗ, bê tông vì các hạt ô-xít sắt cực mịn lọt vào từng kẽ nhỏ. Tường nhà, chân cột, nền sân ở vùng đất đỏ lâu ngày ngả hồng là chuyện quen; người địa phương thường chọn sơn tường màu đất, màu kem để đỡ lộ vết.
Nhận biết đất đỏ bazan ngoài thực địa
Không cần dụng cụ, bạn vẫn có thể nhận ra đất đỏ bazan và phân biệt với các loại đất khác hay gặp quanh vùng Tây Nguyên qua mấy dấu hiệu dưới đây:
| Dấu hiệu | Đất đỏ bazan | Đất xám, đất cát pha (trên đá khác) | Đất sỏi đá ong |
|---|---|---|---|
| Màu | Đỏ tươi đến nâu đỏ, đều | Xám, vàng nhạt, xám trắng | Đỏ nâu loang lổ, có hạt cứng |
| Bóp trong tay khi ẩm | Mịn, dẻo nhẹ, vê được, không sạn | Rời, sạn cát, khó vê | Lổn nhổn hạt kết von cứng |
| Khi khô | Thành bụi mịn, bám dai vào quần áo | Bụi thô, ít bám | Cứng, sỏi lẫn đất |
| Vết cắt taluy | Tầng đỏ dày, vách đứng khá vững | Tầng mỏng, dễ sụt | Lớp sỏi hoặc đá ong rõ |
| Khi mưa | Rất trơn, dính bánh xe | Ít trơn, thoát nước nhanh | Đỡ trơn hơn đất đỏ |
Không phải khoảnh đất nào ở vùng Tuy Đức cũng là đất đỏ bazan điển hình. Ở chân dốc, ven suối, trên những vùng mà nền đá không phải bazan, đất có thể khác hẳn. Khi cần thông tin cho một khoảnh cụ thể, hãy xem bản đồ thổ nhưỡng của ngành nông nghiệp hoặc lấy mẫu phân tích.
Điểm mạnh: vì sao đất đỏ được quý
Tầng đất dày. Rễ cây lâu năm có thể đi sâu, tìm nước ở các lớp dưới trong mùa khô. Đây là lợi thế lớn cho cây lâu năm như cà phê, cây ăn trái so với những vùng đất mỏng trên đá.
Cấu trúc tơi, nhiều lỗ rỗng. Hạt sét trong đất đỏ kết lại thành những viên nhỏ nhờ ô-xít sắt, nhôm; giữa các viên là lỗ rỗng. Nhờ vậy đất thoáng khí, nước mưa ngấm nhanh, ít úng ở chỗ có độ dốc.
Giữ ẩm khá. Các lỗ rỗng nhỏ bên trong viên đất giữ lại một phần nước sau mưa, giúp đất không khô ngay khi trời tạnh.
Dễ làm. Đất không có đá lẫn nhiều, không quá chặt, nên đào hố, làm đất bằng tay hay bằng máy đều tương đối thuận.
Bền cấu trúc khi được che phủ. Dưới tán rừng hay lớp phủ thực vật dày, cấu trúc viên của đất đỏ giữ được rất lâu, ít bị nén chặt. Chính vì vậy đất dưới rừng vừa khai phá thường cho năng suất cao trong những năm đầu, điều đã hút người đến khai hoang vùng này.
Điểm yếu: những gì đất đỏ thiếu
Chua. Quá trình rửa trôi đã mang đi phần lớn các chất kiềm, để lại môi trường chua. Đất chua làm một số chất dinh dưỡng khó được cây sử dụng và có thể làm tăng nhôm hoà tan gây hại cho rễ.
Giữ lân kém cho cây. Ô-xít sắt và nhôm trong đất đỏ “níu chặt” lân, làm phần lớn lân bón vào trở thành dạng cây khó lấy. Đây là đặc tính hoá học đã được nghiên cứu nhiều trên đất đỏ nhiệt đới.
Nghèo dần nếu không được bù. Mưa nhiều tiếp tục rửa trôi chất dinh dưỡng; lớp mùn mặt mỏng dễ mất khi đất bị phơi trần, bị cày xới liên tục.
Rất dễ xói mòn trên dốc. Khi mất lớp phủ thực vật, hạt đất đỏ mịn bị nước mưa cuốn theo dòng chảy mặt. Mỗi mùa mưa, đất dốc trơ trụi có thể mất một lớp đất mặt quý mà phải rất lâu mới hình thành lại. Chuyện này được nói kỹ trong bài về xói mòn và sạt lở.
Đất đỏ thay đổi thế nào sau nhiều năm sử dụng
Đất đỏ dưới rừng và đất đỏ sau hai mươi năm làm vườn là hai thứ khác nhau dù cùng màu. Người làm vườn lâu năm ở vùng Tuy Đức hay kể: đất mới khai phá “bở tơi, đen mặt”, trồng gì cũng lên; sau nhiều năm, mặt đất cứng hơn, nhạt màu hơn, mưa xuống nước chảy tràn nhiều hơn ngấm.
Những thay đổi ấy có cơ chế rõ. Lớp mùn mặt, vốn được rừng bồi mỗi năm bằng lá rụng, không còn được bù đủ khi rừng thành vườn sạch cỏ; mùn bị phân huỷ nhanh trong khí hậu nóng ẩm. Xe và người đi lại nhiều làm nén chặt lớp mặt. Mưa trên đất trống cuốn đi phần hạt mịn giàu dinh dưỡng nhất. Một số cách bón, tưới kéo dài còn làm đất chua thêm.
Tin tốt là quá trình này làm chậm được. Giữ lớp phủ trên mặt đất, trả lại cành lá cho đất, trồng cây che bóng, hạn chế để đất trơ trụi trong mùa mưa là những nguyên lý được ngành nông nghiệp khuyến cáo rộng rãi. Kỹ thuật cụ thể cho từng loại vườn thuộc chuyên mục cây công nghiệp.
Đất đỏ trong đời sống: đường, nhà và bụi
Ai từng ở Tây Nguyên đều có một ký ức về đất đỏ: chiếc xe máy trượt bánh trên dốc sau mưa, đôi dép nặng trịch bùn, chiếc áo trắng ngả hồng sau một chuyến đi đường đất mùa khô. Đất đỏ khi ướt trở nên dẻo và trơn vì các hạt sét mịn ngậm nước tạo thành lớp màng trơn; khi khô, chính những hạt mịn ấy bay thành bụi.
Trong xây dựng, đất đỏ bazan có những đặc tính riêng mà người thợ địa phương thường nắm: vách đào khá đứng khi khô nhưng mềm đi khi ngậm nước, nền đất mùa mưa giảm sức chịu tải, nước mặt chảy tràn dễ khoét chân móng, chân tường. Vì vậy nhà ở đây thường được làm rãnh thoát nước quanh nhà, nâng nền, chống thấm chân tường. Với công trình lớn, khảo sát địa chất và thiết kế của người có chuyên môn là bắt buộc, không thể dựa vào kinh nghiệm chung.
Đường đất đỏ là một bài toán bảo trì không có hồi kết: mưa làm trơn, xói thành rãnh; nắng làm bụi. Rải sỏi đỏ, đá dăm hay bê tông hoá là những cách mà các thôn, xã trong vùng đã làm dần qua các năm.
Đọc một vết cắt đất ven đường
Đi trên các tuyến đường mới mở ở vùng Tuy Đức, bạn sẽ thấy nhiều vết cắt taluy lộ ra mặt cắt đất cao vài mét. Đó là một bài học thổ nhưỡng miễn phí. Trên cùng thường là lớp đất mặt mỏng, sẫm màu hơn vì có mùn và rễ cây. Bên dưới là tầng đất đỏ dày, khá đồng màu. Ở một số nơi, sâu hơn nữa có thể thấy lớp lổn nhổn hạt kết von, đá ong, hoặc những tảng đá bazan phong hoá dở dang, màu xám nâu, bóp vụn được.
Độ dày của lớp mùn mặt nói lên phần nào lịch sử sử dụng đất: dưới rừng còn lại, lớp mặt dày và sẫm; trên đất trống lâu năm, nó mỏng đi rõ. Những vệt rãnh dọc trên mặt taluy là dấu nước mưa đang khoét đất, báo hiệu taluy cần được che phủ, trồng cỏ hoặc gia cố.
Nếu bạn đang chọn đất để làm nhà hay trồng cây lâu năm, nhìn một vết cắt gần đó sẽ cho biết nhiều điều về độ dày tầng đất, chỗ có đá ong cứng hay không, mà nhìn mặt đất không thể thấy.
Câu hỏi thường gặp
Đất đỏ bazan ở Tuy Đức có phải là đất tốt nhất không?
Đất đỏ bazan có nhiều điểm mạnh như tầng dày, tơi xốp, thoát nước tốt, rất hợp cây lâu năm. Nhưng đất chua, giữ lân kém cho cây và dễ xói trên dốc. Gọi là tốt nhất thì chưa chính xác; nó là loại đất có tiềm năng cao nếu được giữ gìn đúng cách.
Vì sao đất đỏ ở chỗ này đỏ tươi, chỗ kia lại nâu vàng?
Màu phụ thuộc vào dạng ô-xít sắt, mà dạng này lại phụ thuộc điều kiện thoát nước. Đất thoáng khí ở sườn, đỉnh đồi thường đỏ tươi; đất hay đọng nước ở chân dốc, thung lũng ngả nâu vàng hoặc có vệt xám. Lớp mặt nhiều mùn cũng sẫm hơn.
Muốn biết đất nhà mình chua hay không thì làm sao?
Cách chắc chắn là lấy mẫu đất gửi phân tích ở các phòng thí nghiệm đất được công nhận, hoặc hỏi cán bộ khuyến nông về chương trình phân tích đất. Bộ thử độ chua đơn giản bán ở cửa hàng vật tư chỉ cho kết quả tương đối.
Đất đỏ bazan hình thành mất bao lâu?
Quá trình phong hoá từ đá bazan thành tầng đất đỏ dày diễn ra trong thời gian địa chất rất dài, tính bằng hàng trăm nghìn tới hàng triệu năm. Vì vậy lớp đất mặt bị xói mất trong vài mùa mưa gần như không thể tự phục hồi trong một đời người.
Đất đỏ có tốt cho làm nhà không?
Đất đỏ khô khá vững, nhưng mềm đi khi ngậm nước và dễ bị nước khoét. Nhà ở cần rãnh thoát nước, nền cao, móng phù hợp. Với công trình lớn hay trên sườn dốc, cần khảo sát địa chất và thiết kế của người có chuyên môn.
Có phải toàn bộ vùng Tuy Đức đều là đất đỏ bazan?
Phần lớn là đất đỏ bazan, nhưng không phải tất cả. Ở chân dốc, ven suối và những nơi nền đá khác, đất có thể khác. Bản đồ thổ nhưỡng của ngành nông nghiệp hoặc mẫu phân tích mới cho biết chính xác một khoảnh cụ thể.