Dân cư vùng Tuy Đức hôm nay gồm ba lớp chính: người M'nông bản địa sống ở đây từ trước; người Kinh đến qua các chương trình kinh tế mới, lâm trường sau năm 1975 và nhất là làn sóng tự tìm đến trồng cà phê từ thập niên 1990; và đồng bào các dân tộc phía Bắc như Mông, Dao, Tày, Nùng vào lập nghiệp chủ yếu từ cuối thập niên 1990 tới những năm 2000.
Vì phần lớn cư dân là người đến trong vòng ba bốn chục năm, Tuy Đức là một trong những vùng “trẻ” nhất về dân cư ở Tây Nguyên. Bài này kể lại các đợt người đến theo trình tự, những lý do kéo họ tới, những khó khăn thời đầu và cách vùng đất đã thay đổi theo. Số liệu dân số cụ thể từng thời kỳ nên tra trong niên giám thống kê; ở đây chỉ nêu xu hướng.
Lớp đầu tiên: người M'nông bản địa
Trước mọi làn sóng di dân, đây là đất của người M'nông. Các bon dựng gần nguồn nước, canh tác rẫy luân canh, khai thác rừng theo nhu cầu, với một hệ thống luật tục quy định quyền với đất, rừng, nước. Dân số khi ấy thưa, các bon cách xa nhau, và phần lớn diện tích là rừng.
Mọi đợt người đến sau đều diễn ra trên nền này. Điều đó có nghĩa là mỗi lần đất được khai hoang, giao, bán, một phần không gian truyền thống của các bon bị thu hẹp. Người M'nông vùng Tuy Đức trong mấy chục năm qua đã phải chuyển đổi rất nhanh: từ rẫy sang vườn cây lâu năm, từ tự cung tự cấp sang bán nông sản, từ luật tục sang giấy tờ đất đai.
Nhắc điều này không phải để trách ai, mà để hiểu vùng đất cho đủ. Khi đọc lịch sử di dân của Tuy Đức, cần nhớ rằng câu chuyện “khai phá vùng đất mới” của người đến sau cũng là câu chuyện “vùng đất của mình đổi khác” của người bản địa.
Ngày nay người M'nông ở vùng Tuy Đức vẫn sống tập trung ở các bon, nhiều nơi gần các trục đường liên xã. Con cháu đi học, làm công chức, làm vườn như mọi cư dân khác, đồng thời giữ cồng chiêng, lễ hội và tiếng mẹ đẻ trong gia đình. Họ không phải là “quá khứ” của vùng đất mà là một phần đang sống của nó.
Sau 1975: kinh tế mới và lâm trường
Sau năm 1975, nhà nước tổ chức đưa dân từ các vùng đông dân lên Tây Nguyên theo các chương trình xây dựng vùng kinh tế mới, đồng thời lập các lâm trường quốc doanh để quản lý và khai thác rừng. Cùng với công nhân lâm trường, nhiều gia đình từ miền Bắc và miền Trung lên vùng phía tây Đắk Lắk cũ, trong đó có vùng đất về sau là Tuy Đức.
Những năm đầu rất gian nan: đường sá chưa có, sốt rét phổ biến, nhà tạm, lương thực thiếu. Không ít gia đình bỏ về quê, những người bám trụ trở thành lớp cư dân người Kinh đầu tiên của vùng. Họ là những người nhớ rõ nhất vùng đất khi rừng còn phủ kín và đường đi là lối mòn.
Quy mô của các đợt kinh tế mới đến riêng vùng Tuy Đức không lớn bằng các vùng dọc quốc lộ, vì đây là vùng sâu, xa trung tâm. Phần lớn sự gia tăng dân số của vùng đến muộn hơn, vào thập niên 1990.
Thập niên 1990 – 2000: theo cây cà phê
Từ đầu thập niên 1990, cà phê trở thành cây làm giàu ở Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn rừng ở vùng biên phía tây Đắk Nông, khi đó còn rộng và rẻ so với vùng đã khai thác lâu, hút người từ khắp nơi. Họ đến theo họ hàng, theo người cùng quê, có người mang vốn từ quê lên mua đất, có người lên làm thuê rồi tích góp mua lại một mảnh.
Làn sóng này phần lớn là di dân tự phát, không theo kế hoạch của nhà nước. Dân số các xã phía tây tăng rất nhanh, nhiều điểm dân cư mọc lên chỉ trong vài năm, trước khi có quy hoạch, đường, điện, trường. Đây chính là áp lực dẫn tới việc tách huyện Tuy Đức khỏi Đắk R'Lấp năm 2006.
Từ cà phê, người dân mở rộng sang hồ tiêu, điều, cao su, rồi về sau là sầu riêng, mắc ca. Mỗi lần giá một loại nông sản lên cao lại có thêm người đến. Chuyện chọn cây, trồng thế nào thuộc chuyên mục cây công nghiệp; ở đây chỉ ghi nhận rằng dòng người đến Tuy Đức gắn chặt với dòng giá nông sản.
Đồng bào các dân tộc phía Bắc vào lập nghiệp
Từ cuối thập niên 1990, nhiều gia đình đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng và một số dân tộc khác từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên, trong đó có vùng Tuy Đức. Lý do thường được nhắc là thiếu đất canh tác ở quê, đất dốc bạc màu, và sức hút của những người đi trước gửi tin về rằng ở đây còn đất.
Họ thường đến theo dòng họ, theo nhóm nhiều hộ, tụ lại thành những cụm dân cư riêng. Ở vùng Tuy Đức, những cụm như vậy có ở nhiều nơi, rõ nhất là ở vùng Đắk Ngo cũ, nay thuộc Xã Quảng Tân. Thời gian đầu, nhiều cụm dân cư nằm ngoài quy hoạch, chưa có giấy tờ đất, chưa có trường, trạm y tế.
Chính quyền các cấp sau đó triển khai nhiều chương trình bố trí, ổn định dân cư: quy hoạch lại điểm dân cư, cấp đất ở và đất sản xuất, làm đường, kéo điện, mở trường. Quá trình này kéo dài nhiều năm và không phải nơi nào cũng thuận lợi. Đến nay, phần đông các gia đình đã ổn định; nét văn hoá của các cộng đồng này được giới thiệu ở chuyên mục đồng bào và văn hoá.
Các lớp cư dân của vùng Tuy Đức
Bảng dưới phác các lớp cư dân theo thời điểm đến. Đây là xu hướng chung, không phải số liệu thống kê:
| Lớp cư dân | Thời điểm chính | Lý do đến / gắn bó | Dấu vết hôm nay |
|---|---|---|---|
| Người M'nông | Bản địa, từ lâu đời | Đất tổ tiên | Tên đất “Đắk”, các bon, văn hoá cồng chiêng |
| Người Kinh theo kinh tế mới, lâm trường | Sau 1975 – thập niên 1980 | Chương trình của nhà nước | Lớp cư dân người Kinh lâu năm nhất |
| Người Kinh tự tìm đến | Thập niên 1990 – 2000 | Đất trồng cà phê, hồ tiêu, điều | Phần đông dân cư; nhiều thôn mang dấu quê gốc |
| Đồng bào dân tộc phía Bắc | Cuối thập niên 1990 – 2000 | Thiếu đất ở quê, theo dòng họ | Các cụm dân cư ở nhiều xã, rõ ở Đắk Ngo cũ |
| Lao động mùa vụ | Hằng năm, mùa thu hoạch | Hái cà phê, hồ tiêu, nhặt điều | Nhà trọ, lán tạm theo mùa |
Lớp cuối cùng ít khi được nhắc nhưng có thật: mỗi mùa thu hoạch, vùng Tuy Đức đón thêm người đến làm thuê ngắn hạn, rồi đi khi hết vụ. Một phần trong số họ ở lại, trở thành cư dân mới.
Người đến mang theo những gì
Mỗi lớp người đến mang theo không chỉ sức lao động mà cả kinh nghiệm, nếp sống và cả cách đặt tên. Người từ các vùng trồng cà phê lâu năm của Đắk Lắk mang theo kỹ thuật làm vườn; người từ đồng bằng mang theo thói quen đào ao, làm giếng, nuôi heo gà quanh nhà; đồng bào phía Bắc mang theo giống ngô, giống lúa nương, cách làm nhà, cách dệt vải.
Nhiều thôn ở các vùng kinh tế mới Tây Nguyên có cách gọi gắn với quê gốc của người lập thôn, hay ít nhất là trong cách nói thường ngày người ta vẫn bảo “xóm Nghệ”, “xóm Quảng”, “xóm Thái Bình” để chỉ nơi có đông người cùng quê. Vùng Tuy Đức cũng có lối gọi như vậy trong đời sống, dù tên hành chính của thôn có thể là số thứ tự.
Cũng có những thứ người đến phải học lại từ đầu: cách sống với mùa khô dài, cách giữ đất dốc khỏi xói, cách nhận biết đất đỏ bazan tốt hay xấu. Nhiều kinh nghiệm ấy học được từ chính người M'nông bản địa, những người đã sống với vùng đất này từ trước.
Sống chung nhiều dân tộc, nhiều vùng quê
Kết quả của các đợt di dân là một vùng có thành phần dân cư đa dạng bậc nhất Tây Nguyên. Trong cùng một xã có thể nghe giọng Nghệ, giọng Quảng, giọng Bắc, tiếng M'nông, tiếng Mông. Chợ phiên, đám cưới, ngày Tết mỗi cộng đồng mang theo phong tục quê gốc, rồi pha trộn dần qua các thế hệ sinh ra tại chỗ.
Sống chung không phải lúc nào cũng êm: tranh chấp đất đai, khác biệt tập quán, cạnh tranh việc làm đã từng xảy ra, như ở mọi vùng di dân. Nhưng thế hệ con cái sinh ra và đi học ở Tuy Đức thì coi đây là quê, nói giọng pha, có bạn bè thuộc đủ dân tộc. Cách gọi “người Tuy Đức” dần mang nghĩa của một cộng đồng địa phương chứ không chỉ là nơi đăng ký thường trú.
Với người sắp chuyển đến, điều này có nghĩa là sẽ không khó hoà nhập: gần như ai trong vùng cũng từng là người mới đến, hoặc có cha mẹ là người mới đến.
Tìm gốc gác gia đình ở vùng di dân
Nhiều người sinh ra ở Tuy Đức, nay đi làm xa, muốn ghi lại lịch sử gia đình mình: ông bà lên từ đâu, năm nào, đi theo ai. Cách bắt đầu đơn giản là hỏi những người lớn tuổi nhất còn sống, ghi lại tên quê gốc theo cách gọi khi đó (tên xã, huyện cũ ở quê), năm đến, những người đi cùng.
Giấy tờ hộ khẩu cũ, giấy chuyển khẩu, giấy tờ mua bán đất viết tay thời đầu là tư liệu quý, vì chúng ghi tên đơn vị hành chính của từng thời kỳ. Nên giữ bản gốc ở nơi khô ráo, chụp lại bản số, và ghi chú tên đơn vị hiện nay tương ứng, vì cả quê gốc lẫn vùng Tuy Đức đều đã đổi tên hành chính năm 2025.
Nếu gia đình bạn từng chuyển khẩu nhiều lần, ví dụ từ quê lên một tỉnh Tây Nguyên khác rồi mới về Tuy Đức, hãy ghi lại cả các chặng trung gian. Rất nhiều gia đình ở vùng này không đến thẳng từ quê gốc mà đi qua nhiều nơi, ở mỗi nơi vài năm, trước khi dừng chân. Chính những chặng ấy giải thích vì sao họ hàng của một nhà có thể rải ở ba bốn tỉnh khác nhau.
Những câu chuyện gia đình như vậy, gom lại, chính là lịch sử thật của vùng đất. Không có cuốn sách nào kể được đầy đủ chuyện của hàng chục nghìn gia đình đã đến đây; chỉ có chính họ kể được.
Câu hỏi thường gặp
Người M'nông có phải là dân bản địa của Tuy Đức không?
Có. Người M'nông sống ở vùng cao nguyên này từ lâu đời, trước các đợt di dân sau năm 1975. Tên đất bắt đầu bằng chữ Đắk như Đắk Búk So, Đắk R'Tíh, Đắk Ngo là dấu vết của họ trên bản đồ.
Vì sao nhiều người phía Bắc vào Tuy Đức lập nghiệp?
Lý do thường được nhắc là thiếu đất canh tác ở quê, đất dốc bạc màu, trong khi Tây Nguyên còn đất trồng cây công nghiệp. Họ thường đi theo dòng họ, theo tin của người đi trước. Mỗi gia đình có hoàn cảnh riêng, không nên khái quát.
Dân số Tuy Đức bao nhiêu người?
Bài này không nêu con số vì số liệu thay đổi theo năm và theo cách tính sau sáp nhập. Số liệu chính thức về dân số ba xã mới nên tra niên giám thống kê của tỉnh Lâm Đồng hoặc hỏi chính quyền xã.
Người mới đến Tuy Đức có dễ hoà nhập không?
Thường là dễ, vì phần lớn cư dân đều là người đến trong vài chục năm gần đây hoặc là con cháu của họ. Điều nên làm là tôn trọng phong tục của các cộng đồng, nhất là của người M'nông bản địa và đồng bào các dân tộc trong thôn, bon nơi mình ở.
Lao động mùa vụ đến Tuy Đức vào thời gian nào?
Chủ yếu vào mùa thu hoạch các loại cây chính, như cà phê vào khoảng cuối năm, điều và hồ tiêu vào mùa khô. Thời điểm cụ thể lệch theo năm và theo vườn, nên người đi làm thuê thường hỏi trước người quen ở địa phương.
Muốn tìm hiểu lịch sử di dân của vùng thì đọc ở đâu?
Có thể bắt đầu từ các ấn phẩm địa chí, lịch sử địa phương của Đắk Nông cũ, các nghiên cứu về di dân ở Tây Nguyên đã xuất bản, và báo cáo của chính quyền về các chương trình ổn định dân cư. Lời kể của người lớn tuổi trong gia đình cũng là nguồn quý.